Nhìn một danh sách tám món phải xong cùng lúc thì ai cũng thấy đáng sợ, nhưng thực ra đó chỉ là bài toán sắp xếp. Phần lớn món trong mâm cỗ chay không cần nấu cùng lúc — có món ngon hơn sau một đêm, có món chỉ mất mười phút. Tách hai nhóm đó ra rồi xếp theo thời gian là toàn bộ vấn đề. Với lịch đúng thì hai người làm xong một mâm tám món trong khoảng ba tiếng.
Chia món thành ba nhóm
Nhóm một là món nấu trước được. Làm từ hôm trước.
Món kho và món rim. Ngon hơn sau một đêm.
Món hầm và canh măng. Cũng vậy.
Giò chay hấp. Để nguội mới cắt được.
Nem gói sẵn. Chiên sáng.
Nhóm hai là món làm sáng nhưng không sát giờ. Linh hoạt.
Xôi hấp. Giữ ấm được.
Canh nấu. Hâm lại được.
Món chiên. Giòn được ba mươi phút.
Nhóm ba là món sát giờ. Không làm sớm được.
Nộm trộn. Ra nước nếu trộn sớm.
Rau luộc và món xào. Mất màu nếu để lâu.
Tách ba nhóm này ra là bước đầu tiên và nó biến danh sách tám món thành ba việc nhỏ. Nhóm một làm tối trước, nhóm hai làm sáng, nhóm ba làm ba mươi phút cuối.
Nhóm ba chỉ nên có hai ba món. Nhiều hơn thì ba mươi phút cuối không xoay kịp và đó là lúc dễ hỏng nhất.
Chia việc giữa hai người
Một người lo bếp nóng, một người lo sơ chế và bày. Cách chia đơn giản nhất.
Người bếp nóng làm xôi, canh, xào, chiên. Bám bếp.
Người kia rửa rau, thái, trộn nộm, bày đĩa. Không cần bếp.
Cách này tránh hai người tranh một cái bếp. Vấn đề thật.
Cách chia thứ hai là theo món. Mỗi người vài món trọn vẹn.
Cách này rõ trách nhiệm hơn. Nhưng dễ tranh bếp.
Với bếp hai chỗ nấu thì chia theo việc tốt hơn. Bếp là nút thắt.
Với bếp bốn chỗ nấu thì chia theo món được. Không tranh.
Ba người thì thêm một người lo rửa dọn. Rất đáng.
Rửa dọn liên tục thì bếp không tắc. Yếu tố hay bị xem nhẹ.
Viết ra ai làm gì. Không ai hỏi lại.
Có một người quyết cuối. Tránh mỗi người một ý.
Bếp là nút thắt chứ không phải người, nên chia việc theo bếp hiệu quả hơn chia theo món. Hai người giỏi mà tranh một cái bếp thì chậm hơn một người làm tuần tự.
Người thứ ba lo rửa dọn là vị trí bị đánh giá thấp nhất. Bếp tắc vì hết nồi hết đĩa là lý do làm chậm nhiều hơn cả việc nấu.
Dùng bếp cho hiệu quả
Đếm số chỗ nấu trước khi lên lịch. Giới hạn thật.
Xếp món theo số chỗ nấu có. Không quá tải.
Món hấp chiếm một chỗ rất lâu. Xôi mất ba mươi phút.
Hấp xôi trước tiên. Rồi giữ ấm.
Trong lúc hấp xôi thì dùng chỗ còn lại nấu canh. Song song.
Nồi cơm điện cũng hấp được. Thêm một chỗ.
Lò nướng và nồi chiên không khí giải phóng bếp. Dùng cho món chiên nướng.
Món chiên ngập dầu thì chiếm một chỗ. Xếp cuối.
Dùng chảo lớn chiên một lần nhiều. Nhanh hơn.
Món xào để cuối cùng. Nhanh và cần nóng.
Rửa nồi ngay sau khi dùng xong. Nồi quay vòng.
Mượn thêm nồi và xửng nếu cần. Từ hàng xóm.
Xôi là món chiếm bếp lâu nhất nên nó quyết định toàn bộ lịch buổi sáng. Bắt đầu bằng nó và mọi việc khác xếp quanh nó.
Nồi cơm điện và nồi chiên không khí là hai chỗ nấu thêm mà nhiều người quên tính. Chúng giải phóng bếp chính cho món cần lửa.
Lịch tính lùi từ giờ cúng
Tối trước thì nấu món kho và món hầm. Nhóm một.
Tối trước thì gói nem và hấp giò chay. Cũng nhóm một.
Tối trước thì ngâm nếp và ngâm đỗ. Cho xôi.
Tối trước thì rửa rau và sơ chế. Sáng đỡ việc.
Tối trước thì đếm và rửa bát đĩa. Việc hay quên.
Ba tiếng trước giờ cúng thì bắt đầu hấp xôi. Việc lâu nhất.
Hai tiếng rưỡi trước thì nấu canh. Song song.
Hai tiếng trước thì hâm món kho. Nhanh.
Một tiếng trước thì chiên nem. Giòn được ba mươi phút.
Bốn mươi phút trước thì luộc rau. Giữ màu.
Ba mươi phút trước thì xào và trộn nộm. Nhóm ba.
Mười lăm phút trước thì bày mâm. Món còn nóng.
Ba tiếng là đủ cho một mâm tám món nếu nhóm một đã làm từ tối trước. Không chuẩn bị trước thì con số đó thành năm tiếng.
Viết lịch ra giấy và dán trong bếp là việc bắt buộc với mâm từ sáu món trở lên. Trong đầu thì rõ ràng tối hôm trước, còn tới sáng thì không ai nhớ nổi thứ tự.
Những chỗ hay tắc
Hết chỗ nấu. Nút thắt số một.
Hết nồi sạch. Rửa dọn không kịp.
Hết chỗ trên bàn để bày. Dọn trước.
Hết chỗ trong tủ lạnh. Tính trước.
Quên một món tới phút cuối. Danh sách giải quyết.
Món sát giờ dồn quá nhiều. Chia lại nhóm.
Hai người cùng cần một cái bếp. Chia việc theo bếp.
Thiếu bát đĩa để bày. Đếm từ hôm trước.
Quên chuẩn bị hộp chia phần. Việc nhỏ hay quên.
Quên mua hương hoa. Việc ngoài bếp.
Giờ cúng đổi vào phút chót. Hỏi kỹ từ đầu.
Người phụ tới muộn. Có phương án một người.
Hai nút thắt thật sự là số chỗ nấu và người rửa dọn. Mọi thứ khác đều giải quyết được bằng danh sách và lịch viết ra giấy.
Đếm bát đĩa và dọn sẵn chỗ bày từ tối trước là hai việc ngoài bếp mà chúng cứu buổi sáng nhiều nhất. Chúng không phải nấu nướng nên hay bị bỏ khỏi kế hoạch.